Cử nhân sư phạm về quê chăn lợn là phúc cho xã hội

Submitted by superthin on 10/10/2017 - 11:29:40
Thủ khoa chăn lợn

Báo chí Việt Nam cứ thi thoảng lại có một cơn lên đồng, thi nhau ồ ạt viết về những cái gì đó mà nó chẳng có gì mới, thông tin cũ sì, mọi thứ diễn đi diễn lại phát nhàm, có đăng báo, lên đài phát thanh, tivi hay mạng xã hội hay không cũng bấy nhiêu chuyện. Những ngày gần đây là gì? Thủ khoa đại học nọ đại học kia, có cả đại học sư phạm về quê chăn lợn, bán hoa quả hay làm cái gì đó, đại loại là không cần chút nào chất xám, xem ra những năm đại học vô nghĩa lý.

Chuyện có gì đáng bàn không? Chả có gì đáng bàn. Thế sao có bài viết này. Tự bài viết có vậy, chẳng vấn đề gì xảy ra, mây vẫn bay, nắng vẫn rọi laugh

Có phải là hiện tượng lạ không?

Trong một nền kinh tế thị trường, lại trong thời buổi toàn cầu hoá, thời đại cách mạng bốn chấm không,... nhiều yếu tố tác động khiến thời buổi bây giờ là thời buổi "người khôn của khó", "người nhiều việc ít".

Chuyện thất nghiệp không phải bây giờ mới có nhé. Việc mấy trăm ngàn cử nhân, thạc sỹ ra trường thất nghiệp ở Việt Nam chẳng có gì để mà phân tích mổ xẻ. Chuyện đó có khác gì chuyện tá điền trồng nho thất nghiệp trong kinh thánh từ thời Chúa Giê-su đâu?

Ở Việt Nam, nhiều sinh viên ra trường không có việc là điều hết sức bình thường. Trong số đó có những người chịu "bó tay" nằm nhà chờ việc, gia đình bỏ tiền ra chạy chọt, hoặc sau một thời gian "ăn không ngồi rồi" mãi cũng chán, kinh tế cá nhân, gia đình cũng kiệt quệ nên  đành cất tấm bằng đi, đi xin việc làm công nhân ở một xí nghiệp nào đó. Nhưng cũng có những bạn không chịu ở không ngày nào, học xong đại học họ chỉ xem đó là một kỳ nghỉ ngơi, dạo chơi cho biết thế nào là "môi trường bốc mùi trí thức" chút chút rồi thôi, "xếp bút nghiêng" lên đường... kiếm cơm, đúng chuyên môn hay không chẳng phải là điều quan trọng.

Tại sao ở Việt Nam, người có trình độ đại học, cao học lại thất nghiệp nhiều hơn người chỉ tốt nghiệp phổ thông?

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến điều này, sẽ mất rất nhiều thời gian để liệt kê và phân tích chi tiết. Thin chỉ tóm lại ở 2 nguyên nhân theo Thin là quan trọng nhất  dẫn đến việc này:

1. Tâm lý sính bằng cấp của người dân: điều này không chỉ riêng ở Việt Nam mà tồn tại ở bất kỳ dân tộc nào trên thế giới. Trọng sự học tất nhiên là điều hợp lý, đáng được ủng hộ. Tuy nhiên, cần phân biệt việc trọng cái học, tri thức với việc sính bằng cấp. Việt Nam có thể nói là một xã hội sinh bằng cấp. Hàng trăm năm trước người ta quan niệm "sỹ, nông, công, thương", cho đến giờ, có nhiều thay đổi nhưng tâm lý đó vẫn chưa thể một sớm một chiều bị dẹp bỏ. Ngày trước người ta học là để làm quan, ngày nay, thời làm phát quan, quan tham đầy ra... nên tranh nhau một ghế không dễ.

Từ việc sính bằng cấp nên nhiều gia đình gần như "cố đấm ăn xôi" cho con vào đại học cho bằng được, bằng bất cứ giá nào cũng phải học xong đại học, có tấm bằng cử nhân trong tay. Cái tấm bằng đó làm gì không biết, nhưng cứ có cái đã để cho ra vẻ trí thức, mọi thứ tính sau. Chính vì thế, một đất nước đang phát triển như Việt Nam mà có tỉ lệ cử nhân trên dân số quá cao. Người ta hay nói đùa là "phổ cập đại học".

Cái gì nhiều đến mức nhan nhản sẽ dẫn đến việc rớt giá là điều không phải tranh cãi. Tấm bằng đại học cũng vậy, ngày nay nó không hơn gì một tấm bằng tú tài ở thời điểm 30 năm trước.

2. Nền kinh tế yếu kém: mặc dù những con số GDP hàng năm có vẻ là "năm sau cao hơn năm trước", nào là "rất khả quan", nào là "tỉ lệ thất nghiệp thấp so với...". Thực sự nếu nền kinh tế trên đà tăng trưởng tốt, năng động, tự nó sẽ hấp thụ hết lực lượng lao động xã hội từ trình độ cao cho đến lao động phổ thông.

Việc sớm có việc để làm, có đúng chuyên môn hay không cũng là điều đáng khen

Trong những thời điểm khủng hoảng hoặc suy thoái kinh tế thì không bàn, lúc ấy ngay cả những người có bằng cấp, học vị cao, kinh nghiệm làm việc lâu năm vẫn không có việc để làm. Trên thế giới từng có những câu chuyện tiến sỹ đi lái taxi, tiến sỹ làm người bắt cua ngoài biển hoặc làm những công việc hầu như một người bình thường làm được mà không cần đến hàm lượng chất xám cao.

Trong hoàn cảnh kinh tế Việt Nam hiện tại, xem ra không tốt lắm nhưng cũng không suy thoái, tâm lý lạc quan của người dân cũng khiến cho nền kinh tế không rơi vào trạng thái ảm đạm. Từ đó, để có một công việc không phải là việc khó khăn nếu chấp nhận khởi đầu ở mức dưới mong đợi hoặc không đúng chuyên môn đào tạo (có khi ngành đó đang bão hoà do công tác thống kê, dự báo ở Việt Nam còn khá sơ khai).

Có nhiều phân tích đủ góc nhìn khác nhau về việc ra trường làm cái nọ cái kia, thủ khoa mà thất nghiệp hoặc đi chăn lợn, nuôi gà,... Thin không bàn đi bàn lại làm gì vì ai cũng đã đọc vào mớ bùng nhùng đó. Thin chỉ xét ở khía cạnh cá nhân của người tốt nghiệp về quê thay vì cố trụ lại thành phố bằng mọi giá. Làm sao người ta biết được họ nghĩ gì, làm gì khi quyết định rời thành phố sau khi học xong để về nơi mái ấm mình bao năm ở đó để rồi có thể chăn lợn, làm vườn, nấu rượu hay làm bất cứ chuyện gì mà không dính dáng đến chuyên môn đào tạo, bất kể họ có tốt nghiệp loại gì đi nữa. Cho nên, mọi chuyện "lạm bàn" cũng chỉ là tâm lý thích làm thầy thiên hạ của những kẻ tự cho mình có cái quyền đưa ra những nhận xét cứ như họ là "đỉnh cao trí tuệ".

Nhìn chung, lao động là đáng quý, ngành nghề công việc nào miễn lương thiện là được, có đóng góp cho xã hội hay vinh quang gì đó hay không xem ra chẳng phải là quan trọng nữa rồi. Việc quan trọng là một cô cậu cử nhân, thạc sỹ gì đó toàn tâm toàn ý cho công việc, chăm chỉ làm việc để tạo ra thành quả, nuôi được bản thân để tránh bị thất nghiệp quá lâu, ảnh hưởng đến tâm lý và làm những việc có hại cho xã hội. Được như vậy đã là có phúc cho xã hội lắm rồi. Không có cái gì đáng phải bàn luận trong một xã hội mà tương lai con người đi làm thuê cho robot.